Bệnh viêm mũi

Tịt lỗ mũi

Ngày đăng: 2016-09-28
Lượt xem: 1155 Views

meo-tri-so-mui-nghet-mui

Tịt lỗ mũi bao gồm,tịt lỗ mũi trước và tịt lỗ mũi sau.

Tịt lỗ mũi trước:

Thường do sang chấn, cũng còn gặp do đậu mùa hay giang mai mũi (ngày nay rất hiếm).

Có thể tịt một bên hoặc cả hai bên, tịt một phần hoặc tịt hoàn toàn. Tuỳ theo mức độ tịt lỗ mũi sẽ gây ảnh hưởng đến thở và ngửi.

Nếu tịt không hoàn toàn hoặc một bên không ảnh đến hưởng ngửi mà chỉ ảnh hưởng đến thở. Nếu tịt hoàn toàn, cả hai bên sẽ gây nhiều ảnh hưởng.

+ Không thở bằng mũi được, phải thở bằng mồm nên dễ gây viêm họng mạn, nếu ở trẻ nhỏ dễ bị viêm thanh, khí, phế quản.

+ Mất ngửi do hơi, mùi không đến được khe khứu.

+ Giọng nói thay đổi: nói giọng mũi kín.

+ Ngoài ra còn ảnh hưởng đến thẩm mỹ do sẹo rúm.

Chẩn đoán tịt lỗ mũi trước dễ dàng nhưng cần xác định dưối lốp màng sẹo là tô chức xơ, dày nhiều hay ít.

Hướng xử trí: lấy bỏ tổ chức xơ sẹo, không khó khăn nhưng sẽ bị tịt trở lại. Do đó, phải đặt ống nong 4-8 tuần, cần lấy hết khối xơ dưới lớp da, niêm mạc ở lỗ mũi để chỉnh hình được tốt.

Tịt lồ mũi sau

Là một dị tật bẩm sinh, nếu tịt một bên không hoàn toàn thường bị bỏ qua. Với tịt cả hai bên, hoàn toàn gây nguy hiểm đến tính mạng (ở trẻ sơ sinh). Nếu không được phát hiện, xử lý ngay thì bệnh nhân thường bị tử vong trong một vài tuần đầu do sặc khi bú, viêm phổi, thiếu oxy…

Tịt không hoàn toàn: tuỳ lỗ thông to hay nhỏ, sẽ gây ảnh hưởng nhiều hay ít đến thở và ứ đọng chất xuất tiết ở mũi. Nếu lỗ thông còn lại quá nhỏ, xuất tiết đọng lấp đi có thể gây những cơn sặc, khó thở, tím tái do không thở được.

Phát hiện bằng cách cho thở trên gương (Glatden) Glatzel hay gương thường, thấy vùng mò do hơi thở bị hẹp; lắp đầu ống soi Sìegle (Sigơn) vào khít hốc mũi, không bóp được bóng cao su vì hơi không thoát đi được.

Tịt hoàn toàn: cần đặc biệt lưu ý đến tịt hoàn toàn cả hai bên gây không thở được bằng mũi. Ở trẻ sơ sinh chưa hình thành phản xạ thở bằng miệng nên trẻ bị thiếu thở, tím tái, không bú được. Nếu đổ sữa bằng thìa sẽ bị sặc sụa tím tái do chưa có phản xạ nuốt ngay, vì thế thường tử vong ngay 1, 2 tuần đầu nếu không được phát hiện, xử lý. Nếu may mắn trẻ qua được vài tuần đầu hoặc sau khi đẻ ra bị tịt không hoàn toàn sau mới dần dần tịt hẳn, trẻ sẽ có thể thích ứng được với phản xạ thở bằng mồm, phản xạ nuốt nhanh nhưng vẫn có nguy cơ tử vong do bị viêm phổi.

Phát hiện bằng cho thỏ trên mặt gương, không thấy bị mờ, rỏ thuốc có màu như argyrol 1%, xanh methylen không thấy xuống họng. Trẻ đói, đòi ăn nhưng không ngậm được vú hoặc khi cho ăn bị sặc sụa, tím tái. Dùng que đầu tù hay ống thông cao su thăm dò thấy không xuống được họng.