Bệnh viêm mũi

Những tác dụng phụ toàn thân thuốc kháng Histamin

Ngày đăng: 2016-09-27
Lượt xem: 704 Views

diem-mat-5-vi-chat-khong-can-uong-bo-sung-hinh-9

Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn một số tác dụng phụ có thể xảy ra sau khi dùng thuốc kháng histamin.

Những phản ứng dị ứng

Các phản ứng này bao gồm sưng tay chân, phù nề da, thanh quản, phát ban (đa có những vết ngứa đỏ), chàm
(dát màu đỏ, ngửa, có bọng nước, rỉ nước rồi đóng vảy khô), sốc và bỏng nắng.

Phản ứng của tế bào máu

Thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu và giảm tất cả các loại tế bào của máu có thể xuất hiện sau khi dùng
thuốc kháng histamin.

Những phản ứng của hệ tim mạch

Gồm có: giảm huyết áp khi đứng, nhịp tim không đều, nhanh, hoặc có ngoại tâm thu; xỉu đi, huyết áp tăng,
những thay đổi trên điện tim, ngừng tim (sau những mũi tiêm thuốc kháng histamin).

Những phản ứng của hệ tiêu hoả

Nhiều triệu chứng khác nhau của hệ tiêu hoá có thể xảy ra sau khi dùng kháng histamin, bao gồm có đau
bụng, buồn nôn, táo bón. Điều này rất phổ biến với các kháng histamin loại I.

Tăng cân và ăn ngon miệng hơn có thể xuất hiện do dùng cyproheptadin (periacin) và astemizol (hismanal), hai
thuốc kháng histamin thuộc loại V.

Hệ thống thần kinh

Thần kinh đối với kháng histamin là sự lơ mơ buồn ngủ. Phản ứng phổ biến nhất trong tất cả những phản ứng. Một số rối loạn khác có thể gặp nhưng không phổ biến. Hiện tượng này thường nhẹ và mất đi sau 2 tuần điều trị.Tuy nhiên, do các cá thể khác nhau đáp ứng khác nhau với thuốc kháng histamin, nên có một số đã không chịu nổi với tác dụng phụ này bao gồm có sự nhầm lẫn, sự bôn chồn không yên, sự kích động, lo lắng, căng thẳng, co giật, đau đầu, mất ngủ, không tưởng, và một hiện tượng rất hiếm thấy là co giật các cơ ở cổ, mặt, miệng và mắt.

Những tác dụng phụ đặc thù theo từng loại kháng histamin

Chúng ta hãy xem xét những tác dụng phụ đặc trưng cho từng loại kháng histamin

Loại I: các ethylenediamin

Tác dụng phụ phổ biến là: buồn ngủ, ăn mất ngon và co thắt dạ dày, ruột.

Loại II: các ethanolamin

Tác. dụng phụ phổ biến là: buồn ngủ. Ngoài ra có thể có khô mồm, mũi, đái khó, co thắt dạ dày, ruột và ăn mất ngon.

Loại III: các alkylamin

Không gây buồn ngủ như hầu hết các thuốc kháng histamin của các loại khác.

Phản ứng phụ phổ biến nhất là gây căng thẳng thần kinh (bồn chồn không yên, dễ bị kích động).

Loại IV: các piperazin

Cho đến nay thì hyđroxyzin là thuốc được dùng phổ biến nhất trong loại này. Nó có xu hướng mạnh gây nên lơ mơ, buồn ngủ, Tuy nhiên nó lại có đặc điểm giảm ngứa rất, mạnh.

Loại V: các piperidin

Nói chung thì hiếm khi xảy ra những tác động phụ, vì thuốc không có xu hướng xâm nhập vào não (sẽ giải thích
ở phần dưới) dễ như một số kháng histamin khác. Nó cũng ít gây ra khô mồm, mũi, đái khố, những triệu chứng
dạ dày, ruột, buồn ngủ và căng thẳng thần kinh hơn các loại khác, Cyproheptadin và astemizol là những thuốc duy nhất trong nhóm này gây ra chứng ăn ngon miệng hơn.

Loại VI: các phenothiazin

Có khả năng làm khô những chất tiết ra (như nước bọt) vấ gây lơ mơ hoặc buồn ngủ.

Loại VII: các butyrophenon

Không có tác dụng an thần vì thuốc không xâm nhập được vào não. Phản ứng phụ phổ biến nhất là đau đầu, nhưng cũng chỉ xuất hiện ở một số ít người.

Loại VIII: các thuốc khác

Đây là loại thuốc tập hợp tất cả các thuốc không có đặc điểm chung nào. Tất cả các thuốc kháng histamin
không thích hợp với 7 loại trên thì được xếp vào loại này.