Bệnh viêm mũi

Mũi là cơ quan hô hấp

Ngày đăng: 2016-09-28
Lượt xem: 785 Views

Với con người đường thở, hít vào qua mũi là hợp sinh lý nhất. Còn thở qua miệng là không sinh lý và chỉ có vai trò bổ trợ thêm cho thở qua mũi.

Về mặt sinh lý dòng không khí qua mũi bình thường trong hít vào và thở ra có thể tóm tắt như sau: sự thông khí trung bình qua mũi bình thường trong hít thở sinh lý là 6 lít/phút; thông khí tối đa có thể tới 50-70 lít/phút.

o

Van mũi trong (limen nasi) là nơi hẹp nhất của mũi bình thường. Do đó nó hoạt động như miệng vòi và tốc độ của dồng không khí ở điểm này rất cao. Hốc mũi nằm ở giữa van và đầu các xoăn mũi, hoạt động như một bộ phận khuếch tán (diffisor), nghĩa là nó làm cho dòng không khí đi chậm lại và làm tăng sự chuyển động không đều của không khí. Phần trung tâm của hốc mũi với các xoăn mũi, và các khe mũi là phần quan trọng nhất của hô hấp qua mũi. Cột không khí bao gồm một luồng mỏng và một luồng hỗn loạn. Tỉ lệ giữa hai luồng này ảnh hưởng đáng kể đến chức năng và tình trạng của niêm mạc mũi.

Dòng không khí đi theo hướng ngược lại qua hốc mũi khi thở ra. Dòng không khí thở ra ít hỗn loạn ở phần trung tâm của hốc mũi, do đó ít có điều hiện để làm nóng và trao đổi chuyển hóa giữa dòng không khí và vách mũi (khác với dòng không khí hít vào). Vì thế niêm mạc hốc mũi có thể hồi phục trong kỳ thở ra. Sự hít vào qua mũi theo sau sự thở ra qua miệng sẽ nhanh chóng làm khô niêm mạc mũi.

Sức đề kháng của mũi nghĩa là sự khác nhau về áp lực giữa lỗ mũi và họng, sự khấc nhau về áp lực này vượt quá 20mm H20 thì van mũi trong sẽ nở rộng ra trong khi thở. Việc thở qua miệng để hỗ trợ thêm khi giá trị trên lớn hơn 40mm H20. Việc loại trừ hoàn toàn thở qua mũi trong một thời gian dài sẽ dẫn đến những thay đổi niêm mạc tận gcíc khó hồi phục. Tắc cơ học trong mũi do vẹo vách ngăn mũi, quá phát xoăn mũi, chít hẹp do sẹo… có thể dẫn tới việc phải thở qua miệng, các hậu quả do thương tổn niêm mạc mũi, có thể gây ra các bệnh mũi và xoang.

Tĩnh trạng thông thoáng của mũi (nasal patency) có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như nhiệt độ, độ ẩm của không khí xung quanh, tư thế của cơ thể, hoạt tính của cơ thể, những thay đổi về thân nhiệt, ảnh hưởng của lạnh đối với các phần khác nhau của cơ thể. Ví dụ lạnh hai chân, tăng thông khí và các kích thích tâm lý. Tĩnh trạng chức năng phổi, của tim và tuần hoàn, các rốì loạn nội tiết như: có thai cường hoặc thiểu năng tuyến giáp và một sô’ thuốc uống, tiêm hoặc sử dụng tại chỗ như Ephedrin có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng thông thoáng của mũi.

Khi thở mũi bình thường, không khí hít vào sẽ được sưởi ấm, làm ẩm và làm sạch trong lúc luồng không khí đi qua mũi.

Sự “hâm” nóng không khí thở vào qua mũi rất có hiệu quả, sự không thay đổi về nhiệt độ ở đường hô hấp dưới khá ổn định. Chính niêm mạc mũi đã làm ẩm và làm ấm không khí. Nhiệt độ ở họng mũi khi thở mũi bình thường hằng định từ 31 – 34°c không phụ thuộc vào nhiệt độ bên ngoài. Độ nóng của mũi tăng lên khi nhiệt độ bên ngoài giảm xuống để đường hô hấp dưới và phổi có thể hoạt động Ồ một nhiệt độ sinh lý đúng.

Độ ẩm tương đốỉ của không khí trong phòng thích hợp cho tình trạng sức khỏe cơ thể và chức năng của niêm mạc mũi là 50 – 60%. Sự bão hòa hơi nước của không khí thở vào ở họng mũi từ 80 – 85% và ở đường hô hấp dưới hằng định từ 95% đến 100%, không phụ thuộc vào độ ẩm tương đối của không khí xung quanh. Hơi nước sinh ra trong toàn bộ đường thở trong 1.000 lít, không khí có thể đạt tới là 30 gr. Phần lớn hơi nước này do mũi cung cấp. Mặt khác, lớp dày của niêm mạc mũi phủ kín cả niêm mạc mũi và đề phòng sự giải thoát quá nhiều nước vào không khí. Điều này sẽ dẫn tới sự khô của niêm mạc mũi.

Chức năng làm sạch của mũi là:

+ Làm cho không khí thở vào không cồn dị vật, vi trùng, bụi…

+ Làm sạch cho bản thân hốc mũi.

Có khoảng 85% các phân tử lớn hơn 4,5<J> được lọc ra ngoài bởi mũi nhưng chỉ có vào khoảng 5% phân tử nhỏ hơn ld> được dọn sạch.

Các dị vật đi vào mũi đã tiếp xúc với bề mặt niêm mạc ẩm ướt và bề dày của niêm mạc. Tấm dày niêm mạc tiếp tục loại bỏ dị vật.