Bệnh viêm mũi

Giải phẫu và sinh lý hốc mũi – phần 2

Ngày đăng: 2016-09-28
Lượt xem: 582 Views

phan-biet-viem-mui-di-ung-viem-xoang-chay-nuoc-mui-do-cam-cum11459310069

Đặc điểm vi thể niêm mạc mũi

Từ cửa mũi vào trong, có một vùng có chiều dài 1-2 cm đuỢc lót bằng lớp biểu mô lát tầng bao gồm cả cấc tuyến bã, tuyến nhày và nang lông câu tạo giông như da. Kế tiếp là lớp niêm mạc trụ giả tầng có lông chuyển. Lớp niêm mạc này bao phủ toàn bộ hốc mũi và các xoang ngoại trừ vùng khứu giác ở trần hốc mũi và vùng vòm họng.

Trong lớp niêm mạc có các tuyến nhày, các tuyến mũi và các tế bào đáy. Lớp dưới niêm mạc chứa các tế bào đệm, tế bào bạch cầu: dưỡng bào, tế bào ái kiềm, lymphô, tương bào và nhiều tổ chức bạch huyết, giúp các phản ứng viêm phát triển nhanh chóng với sự xâm nhập của các ngoại vật xâm nhập. Lớp dưới niêm mạc có chứa nhiều sợi thần kinh, mạch máu, các tuyến nhày và các tuyến thanh dịch.

Sinh lý

Ngoài chức năng thẩm mỹ, mũi còn đóng vai trò rất quan trọng như ngửi, thở, làm ấm làn không khí vào trong mũi, lọc bụi và còn là hồm cộng hưởng trong quá trình phát âm.

Mỗi ngày trung bình có khoảng 10.000 – 20.000 lít không khí được hít vào phổi, trong có chứa hàng tỉ vi khuẩn, siêu vi, chất độc, chất gây ô nhiễm, dị ứng hoặc kích thích lên lớp niêm mạc hô hấp. Các chất này được lọc sạch, được bất hoạt hoặc trung hòa và tiêu hủy tại lớp niêm mạc mũi.

ước tính có khoảng 1 lít nước mất qua không khí thở mỗi ngày và 10% năng lượng dùng cho việc làm ấm không khí vào mũi. Sự điều chỉnh quá trình điều hòa nhiệt độ đó được thực hiện qua hoạt động của hệ thống thần kinh vận mạch qua tác động lên trương lực hệ thông mạch máu dưới niêm mạc, sự bài tiết của các tuyến dưới niêm mạc mũi.

Chức năng hô hấp

Lưu lượng không khí qua mũi được điều khiển nhờ có sự thay đổi bề dày của niêm mạc mũi, chỉ cần một thay đổi nhỏ trong độ dày của niêm mạc mũi cũng đủ để gây ra một thay đổi khẩu kính hốc mũi rất lớn và qua đó thay đổi lưu lượng không khí qua mũi tương ứng. Bề dày niêm mạc mũi thay đổi phụ thuộc vào lượng máu ứ trong lòng các tĩnh mạch dưới niêm mạc mũi nhất là ở vùng van mũi.

Khoảng 50% kháng lực của toàn bộ đường hô hấp nằm ở vùng van mũi, kháng lực vùng van mũi giảm xuống khi cơ cánh mũi co kéo làm rộng van mũi. Ngược lại sự sung huyết của niêm mạc vùng đầu cuốn mũi và vách ngăn làm tăng kháng lực đường thở và tăng kháng lực vùng van mũi. Luồng không khí qua van mũi bị đổi phương: từ tuyến tính thành luồng không khí xoáy ở đó có nhiều vùng có áp lực và vận tốc khác nhau. Luồng không khí xoáy đó gia tăng tác dụng lọc bụi và điều hòa nhiệt độ của niêm mạc mũi đến mức tối xíu.

Sự sung huyết ở niêm mạc mũi giữa hai bên không cùng lúc mà lần lượt, từng bên, thay thế cho nhau tạo nên chu kỳ mũi. Chu kỳ mũi mỗi người khoảng 2-7 giờ điều khiển bởi các cuông não. Trong khoảng thời gian đó, van mũi của một bên mũi luân phiên đóng lại trong khi phía bên mở ra, một bên mũi thông còn một bên hầu như tắc nghẽn. Hoạt động thể lực, động tác thở nhiều nhanh, mở khí quản và một số thuốc vận mạch có thể làm rối loạn của chu kỳ mũi.

Khi hoạt động thể lực, chu kỳ mũi không còn nữa và chỉ tái lập sau khi ngưng hoạt động 15 -30 phút. Ngược lại tình trạng tăng hô hấp, hít không khí quá lạnh và hít chất SƠ2 làm niêm mạc mũi sung huyết ở cả hai bên. Những bệnh nhân nghẹt một bên mũi do bất thường các cấu trúc trong mũi thường cảm giác nghẹt mũi tăng lên khi bên mũi nghẹt đến chu kỳ sung huyết.