Bệnh viêm mũi

Điều trị viêm mũi

Ngày đăng: 2016-09-28
Lượt xem: 1201 Views

cach-chua-tri-viem-mui-di-ung-nao-hieu-qua-1

Đối với các trường hợp viêm mũi mạn tính các việc cải thiện môi trường, kiểm soát tình trạng sung huyết mũi, và vận động thể lực có tác dụng hỗ trợ điều trị rất tốt.

Cải thiện môi trường bằng cách: tránh tiếp xúc với khói bụi, tránh mùi quá nồng nặc, hạn chế thuốc lá, vận động thể lực. Bệnh nhân nên được sinh hoạt trong môi trường có độ ẩm khoảng 35-50%.

Việc rửa mũi bằng nước muôi sinh lý ấm có tác dụng kích thích hoạt động hệ thống lông chuyển, làm loãng bớt dịch tiết, sạch vẩy mũi, kích thích niêm mạc hồi phục và cải thiện khứu giác.

Các thuốc dùng điều tộ bệnh viêm mũi được xếp làm 5 nhóm: kháng dị ứng, thuốc co mạch, thuốc cromolyn, thuốc kháng cholinergic và thuốc corticoid tại chỗ.

Thuốc kháng dị ứng

Tác dụng ngăn chặn histamin tiếp xúc với tế bào đích nằm trên mạch máu mũi, các tuyến nhày và thụ cảm ngứa. Thuốc còn có tác dụng ức chế hiện tượng phóng thích các hóa chất trung gian của dưỡng bào và bạch cầu ái kiềm. Các thuốc kháng dị ứng được dùng để điều trị các triệu chứng: chảy mũi ngứa mũi và nhảy mũi và ít có tác dụng giảm bớt triệu chứng nghẹt mũi. Các thuốc kháng HI thế hệ mới không qua hàng rào máu não nên ít gây triệu chứng buồn ngủ. Khi dùng quá liều cho phép, astermizole có các tác dụng phụ kích thích thèm ăn, tăng cân, gây đột quỵ, ngưng tim, nhịp tim (xoắn đỉnh). Dù rằng các thuốc kháng HI thế hệ cũ có thể gây nên triệu chứng buồn ngủ, tiểu khổ nhất là ở người già nhưng các thuốc này không gây các phản ứng phụ nguy hiểm như của các thuốc thế hệ mới,

Thuốc co mạch

Có hai loại thuốc co mạch chủ yếu là: (1) phenylamines, (ephedrine, pseudoephediine, phenylephrine, phenylpropanolamine) và (2) imidazolines (xylometazoline, oxymetazoline, naphazoline, antazoline). Thuốc thuộc nhóm phenylamine được dùng theo đường uống trong khi đó thuốc imidazole được dùng theo đường tại chỗ. Phenylephrine tác động làm giảm lượng máu đến mũi làm giảm sung huyết và phù niêm mạc nhưng không giảm triệu chứng ngứa mũi và nhảy mũi của bệnh nhân.

Những tác dụng ngoại ý của thuốc co mạch tại chỗ là gây bệnh viêm mũi do lạm dụng thuốc nhỏ mũi tại chỗ. Những thuốc co mạch tại chỗ ít gây tăng nhịp tim, không làm cao huyết áp. Các thuốc đường uống có thể làm tăng hoặc hạ HA, loạn nhịp tim, tổn thương cơ tim, co giật, ảo giác, chán ăn, đột quỵ, rối loạn tâm thần ở một sô” bệnh nhân. Cần lưu ý: thuốc có thể gây khó tiểu cho một sô” bệnh nhân.

Thuốc kháng choiinergic

Ipratropium (adtrovent) có tác dụng tại các tuyến thanh dịch khi được sử dụng tại chỗ. Thuốc làm giảm triệu chứng chảy nước mũi của các người bệnh bị viêm mũi vận mạch, viêm mũi cấp do lạnh, viêm mũi do hít phải không khí khô, do chất kích thích và các trường hợp viêm mũi do siêu vi. Tác dụng phụ của thuốc bao gồm: khô niêm mạc, tăng kích thích niêm mạc, giảm tiết dịch niêm mạc mũi hoặc gây rối loạn hoạt động lông chuyển.

Corticoid

Các corticoid tại chỗ thường được sử dụng là beclomethasone dipropionate, Hunisolide, budesonide, Auocortin butyl, triamcinolone acetonide, và dexamethasone (ít được sử dụng ngày nay vì khả năng hâ”p thu vào hệ tuần hoàn cao làm tăng nguy cơ ức chế trục hạ đồi-tuyến yên). Tác dụng làm giảm tính thâm thành mạch máu, co mạch, giảm phù và phản ứng viêm ái toan, ái kiềm, đa nhân trung tính và dưỡng bào), thuốc còn giảm sự tiết của các tế bào nên thuốc có tác dụng tốt trong những trường hợp viêm mũi tăng bạch cầu ái toan và các trường hợp polyp mũi.

Tác dụng ngoại ý của thuốc tương đôl hiếm bao gồm ức chế trục hạ đồi tuyến yên do dùng quá liều, dùng trong một thời gian quá lâu hoặc dùng thuốc kết hợp với các thuốc đường uống, cần cảnh giác tìm nguyên nhân của những trường hợp thất bại sau khi đã được dùng thuốc đầy đủ: chẩn đoán sai, không dùng đúng liều cần thiết, hấp thu kém, khối u trong mũi và yếu tố môi trường (quá nhiều tác nhân gây bệnh).