Bệnh viêm mũi

Chẩn đoán xác định bệnh viêm mũi dị ứng

Ngày đăng: 2016-09-28
Lượt xem: 880 Views

yeu-to-gay-viem-mui-di-ung

Xác định được chất gây dị ứng là tác nhân gây bệnh.

Chứng minh được cơ chế miễn dịch của bệnh viêm mũi dị ứng, viêm mũi dị ứng là một bệnh do rối loạn tổng hợp IgE.

Bệnh sử dị ứng, soi mũi/nội soi, thử nghiệm da, tế bào học trong mũi, định lượng IgE toàn phần, IgE đặc hiệu, CT scan hoặc XQ.

Phản ứng da dương tính với các dị nguyên.

Xét nghiệm: tăng bạch cầu ái toan và lượng IgE tăng cao trong máu ngoại vi. Muôn xác định dị nguyên có thể khẳng định qua test dị ứng da, test kích thích mũi; định lượng IgE toàn phần và IgE đặc hiệu.

Chẩn đoán lâm sàng

Lâm sàng: có 3 triệu chứng ngạt mũi, hắt hơi và chảy mũi.

Khám: niêm mạc nhợt nhạt, cuốn mũi phù nề, có ánh tím.

Tiền sử: có người nhà bị dị ứng – bệnh nhân có bô” hoặc mẹ bị dị ứng.

Chẩn đoán xét nghiệm

Các xét nghiệm da (bì)

Việc xác định bệnh viêm mũi dị ứng bao gồm việc xác định cơ chế miễn dịch và phải xác định được chất gây dị ứng. Chất dị ứng bắt nguồn từ môi trường sông của bệnh nhân. VI vậy các mẫu dị ứng được dùng để chẩn đoán đồng thời có thể dùng để điều trị bệnh dị ứng.

Kháng thể có khẵ năng mẫn cảm và gắn vào tổ chức da của người bệnh, khi dị nguyên vào da (theo đường tiêm, rạch, tiếp xúc): nó kết hợp với IgE và giải phóng ra histamin, làm xuất hiện các triệu chứng sung huyết, phù nề, sẩn ngứa ban đỏ, v.v…

Căn cứ vào tiền sử di ứng và loại dị nguyên “nghi ngờ” để phát hiện kháng thể. Ta có thể tiến hành các thử nghiệm: nhỏ giọt; rạch da, lẩy da (prick test); nội da; các thử nghiệm này dùng để phát hiện kháng thể dị ứng với bụi nhà, phân hoa và lông vũ, biểu bì, lông súc vật, nấm mốc, huyết thanh, thuôc, hóa chất.

Tóm tắt: các cuộc thử nghiệm da là những phương pháp khám nghiệm xác định về mặt lâm sàng, phản ứng tức thời của IgE đối với một dị nguyên.

Nguyên tắc: là thử một hay nhiều dị nguyên vào da.

Kết quả: (+) khi có hiện tượng tản hạt của dưỡng bào phụ thuộc vào IgE trong da với hiện tượng hồng ban, nổi mày đay.

Tùy từng trường hợp mà tiến hành các test da khác nhau.

Test lẩy da (prick test)

Nhằm phát hiện sự mẫn cảm của cơ thể bằng cách đưa dị nguyên qua da và sau đó đánh giá kích thước, đặc điểm của sẩn phù và phản ứng viêm tại chỗ. Test lẩy da chỉ được tiến hành trong thời kỳ lui bệnh.

Sát trùng mặt trước trong cẳng tay bằng cồn hoặc ête, để khô.

Nhỏ lần lượt các dung dịch: histamin 0,1%; nước muôi 9%c; dung dịch dị nguyên mỗi giọt cách nhau 3cm.

Dùng kim lẩy da, đặt mũi kim xuyên qua lớp thượng bì rồi lẩy nhẹ kim lên, chú ý không được đâm kim sâu gây chảy máu (mỗi giọt dị nguyên dùng một kim riêng) đọc kết quả sau 15-20 phút.

Test rạch da

Sất trùng mặt trước trong cẳng tay bằng cồn hoặc ête, để khô.

Nhỏ lần lượt các dung dịch: histamin 0,1%; nước muôi 9%o; dung dịch dị nguyên mỗi giọt cách nhau 3cm.

Dùng dao rạch nhẹ xuyên qua lớp thượng bì chú ý không được rạch sâu gây chảy máu (mỗi giọt dị nguyên dùng một kim riêng) đọc kết quả sau 15-20 phút.

Test trong da

Dị nguyên được tiêm vào trong da ở mặt trước trong cẳng tay, mỗi lần tiêm 0,1- 0,2ml dung dịch dị nguyên. Dị nguyên dùng ở test nội bì có nồng độ thấp hơn test lẩy da.

Đánh giá kết quả

Mức độ phản ứng Ký hiệu Biểu hiện
Âm tính (-) Giông chứng NaCl 0,9%
Dương tính nhẹ + Đường kính sần 3-5mm
Dương tính vừa + + Đường kính sần 5-8 mm
Dương tính mạnh +++ Đường kính sần 8-12mm; có chân giả
Dương tính rất mạnh ++++ Đường kính sần hên 12mm; có nhiều sẩn giả

Dùng dị nguyên kích thích trực tiếp

Là phương pháp đưa trực tiếp dị nguyên vào mũi cho kết quả xem dị nguyên đó có gây tác động tức thời với niêm mạc mũi hay không? Để phát hiện kháng thể dị ứng, nhưng có trường hợp âm tính giả hiệu.

Ưu điểm của phương pháp: đường vào cơ thể của dị nguyên tự nhiên hơn các phương pháp khác.Test nhỏ mũi: nhỏ một giọt kháng nguyên vào một bên mũi, phản ứng dương tính xuât hiện khi hắt hơi, ngứa mũi, khó thở một bên mũi do niêm mạc mũi bị phù nề làm hẹp đường thở mũi.

Các phương pháp xét nghiệm gián tiếp định lượng kháng thể dị ứng Phản ứng phân hủy dưỡng bào

Nguyên lý: dựa vào thay đổi hình thái học của dưỡng bào trong điều kiện có sự kết hợp huyết thanh bệnh nhân với dị nguyên đặc hiệu.

Phản ứng tiêu bạch cầu đặc hiệu

Nguyên lý: tiêu bạch cầu người dưới tác dụng của phản ứng dị nguyên + kháng thể, có sự hoạt hóa bổ thể.

Các phương pháp xét nghiệm trực tiếp định lượng kháng thể dị ứng

RAST (radioallergo sorbent test)

Phương pháp Dovaid đề xuất 1967 để xác định IgE đặc hiệu.

Tóm tắt phương pháp này như sau: dị nguyên được gắn vào đĩa giấy cho ủ với huyết thanh nghiên cứu. Sau khi rửa sạch dị nguyên, người ta cho thêm vào đĩa giấy huyết thanh chông IgE được đánh dấu bằng chất đồng vị phóng xạ I 125. Số” lượng chất phóng xạ đánh dấu tỷ lệ thuận với sô” lượng IgE trong huyết thanh chống dị nguyên nghiên cứu. Phương pháp này để xác định IgE đặc hiệu.

RIST (Radiohnmuno sorbent test)

Phương pháp Dovaid đề xuất 1967.

Tóm tắt phương pháp này như sau: huyết thanh nghiên cứu cho ủ với IgE được đánh dâu bằng chất đồng vị phóng xạ I 125 và huyết thanh chống IgE được gắn trên giây xenlulo hoặc cephadex. IgE nghiên cứu và IgE đánh dâu cạnh tranh nhau vì liên kết với kháng huyết thanh. Nồng độ IgE nghiên cứu càng nhiều thì sự liên kết với IgE đánh dâu càng ít. Sô” lượng IgE trong huyết thanh nghiên cứu được xác định nhờ đường cong chuẩn được xây dựng theo kết quả liên kết của nồng độ được biết của IgE.

Phương pháp này có sai số tới 20%.

PRIST (paper radioimmuno sorbent test)

Tóm tắt phương pháp này như sau: huyết thanh nghiên cứu cho ủ với kháng huyết thanh chông IgE có gắn trên giây có ký hiệu sau khi rửa sạch kháng thể cho thêm vào giây kháng huyết thanh chông IgE được đánh dâu bằng chất đồng vị phóng xạ I 125. Hoạt tính phóng xạ của giấy tỷ lệ với sô” lượng IgE liên kết với nó. Sô” lượng IgE trong huyết thanh nghiên cứu được xác định nhờ đường cong chuẩn được xây dựng theo kết quả liên kết của nồng độ được biết của IgE.

So với phương pháp RIST phương pháp này chính xác hơn, sai số 5%.

XQ

80-90% người bệnh có hình ảnh xoang không bình thường.

Thường mỡ nhiều xoang và hai bên, nếu so sánh phim chụp trong giai đoạn bình thường với thời kỳ hay bị hắt hơi, sổ mũi thấy độ mờ của xoang không cố định.

Có hình ảnh niêm mạc xoang dầy hoặc thành pôlíp.