Bệnh viêm mũi

Các thể viêm mũi mạn tính – Viêm mũi vận mạch

Ngày đăng: 2016-09-28
Lượt xem: 585 Views

18-10-quan-niem-khong-dung-ve-benh-cam-p2-typo

Viêm mũi vận mạch là bệnh viêm mũi do sự rốỉ loạn của hệ thần kinh đảm nhiệm chức năng điều hòa trương lực cấc mạch máu trong mũi, hệ thông thần kinh đối giao cảm ở niêm mạc mũi đã chiếm hoàn toàn ưu thế, gây nên các hiện tượng: phù nề niêm mạc, giãn mạch, và tiết nhiều dịch mũi. Những bệnh nhân bị bệnh viêm mũi vận mạch thường có triệu chứng: nghẹt mũi, chảy nước mũi nhiều, nhảy mũi không thường xuyên, nặng vùng mặt và nhức đầu (do tắc nghẽn các lỗ thông các xoang). Những tác nhân không đặc hiệu có thể là yếu tố khởi phát các triệu chứng như: khói thuốc lá, ô nhiễm, các hóa chất trong không khí, nước hoa nồng, những thức có mùi nặng và cả những kích thích tâm lý như: căng thẳng, lo âu, và mệt mỏi.

Việc chẩn đoán xác định bệnh viêm mũi vận mạch căn cứ vào các triệu chứng có được khi khám hốc mũi và chẩn đoán loại ữừ các bệnh viêm mũi do nguyên nhân khác. Cần nhớ rằng một số trường hợp viêm mũi nhiễm trùng có thể kèm theo hay làm nặng thêm tình trạng viêm mũi vận mạch đã có sẩn từ trước. Bệnh viêm mũi vận mạch thường xuất hiện sau khi cơ thể người bệnh trải qua một sự thay đổi đóng vai trò kích thích như: thai kỳ, suy giáp và viêm mũi do thuốc.

Việc điều trị bệnh viêm mũi vận mạch bắt đầu bằng việc tư vấn cho bệnh nhân về chu kỳ mũi, về tình trạng dễ bị kích thích, phù nề ở hệ thống niêm mạc mũi xoang của họ và các phương pháp tránh các yếu tố khởi phát bệnh.

Điều trị nội khoa bệnh viêm mũi vận mạch

Những thuốc se niêm mạc đường uống có tác dụng điều trị trong nhiều trường hợp nhưng đôi khi gây tăng nhịp tim của bệnh nhân. Bệnh nhân có thể sử dụng các thuốc kháng HI để giảm tiết nước mũi, hoặc các thuốc steroid để làm giảm phóng thích các hóa chất trung gian.

Thuôc ipratropium bromide xịt tại chỗ là thuốc có tác dụng điều tậ tốt đối với bệnh viêm mũi vận mạch. Những thuốc kháng cholinergic chỉ có tác dụng tại chỗ mà không có tác dụng toàn thân, có tác dụng đối vận với sự dẫn truyền chất acetylcholine trên các thần kinh đôi giao cảm ngoại biên làm giảm sự bài tiết của các tuyến mũi gây nên triệu chứng chảy mũi. Tuy nhiên cần nhớ rằng thuốc chỉ giảm được triệu chứng chảy mũi mà không làm giảm các triệu chứng ngứa mũi, nhày mũi và nghẹt mũi. Tác dụng ngoại ý hay gặp là hiện tượng khô niêm mạc mũi sau khi dùng thuốc. Tác dụng ngoại ý này được hạn chế bằng cách điều chỉnh liều và sô” lần sử dụng đến liều thích hợp. Liều điều trị trung bình là 80mg mỗi 6 giờ.

Điều trị phẫu thuật bệnh viêm mũi vận mạch

Được áp dụng cho các trường hợp không có đáp ứng tốt với điều trị nội khoa, Có nhiều phương phấp phẫu thuật được dùng để điều trị bệnh viêm mũi vận mạch. Phẫu thuật nhằm mục đích là giảm triệu chứng nghẹt (sung huyết) mũi chứ không làm giảm triệu chứng chảy nước mũi. Những hóa chất dùng để đốt cháy niêm mạc mũi như Nitrat bạc, phenol hoặc cấc chất làm xơ hóa và các phương pháp đốt nhiệt đều nhằm mục đích làm teo bớt niêm mạc mũi. Tuy nhiên các phương pháp này không mang lại kết quả lâu dài mà cồn có nguy cơ để lại sẹo xơ dính và ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thông nhày lông chuyển trên niêm mạc.

Phương pháp chích corticoid dưới niêm mạc cũng có một sô” lợi điểm nhất định, nhưng cần đề phòng biến chứng giảm hoặc mất thị lực do các tinh thể thuốc gây tắc nghẽn các mạch máu của võng mạc. Phương pháp đốt điện đơn cực hoặc lưỡng cực dưới niêm mạc cuốn mũi dưới tuy có kết quả tốt trong việc làm giảm bớt khối lượng cuốn mũi dưới, nhưng không có kết quả rõ rệt với triệu chứng chảy mũi. Theo một tác giả, sự thuyên giảm triệu chứng nghẹt mũi hoàn toàn chỉ tồn tại trong vòng 2 tháng sau khi đốt, sau 15 tháng tình trạng nghẹt mũi hầu như tương đương trước đốt. Phương pháp đốt lạnh cuốn mũi dưới để điều tri bệnh viêm mũi vận mạch và đốt lạnh các sợi thần kinh hậu hạch đối giao cảm cũng ghi nhận tỉ lệ thành công trong khoảng 70-88%.

Các phương pháp phẫu thuật cắt bỏ (một phần hoặc toàn bộ) cuốn mũi dưới cũng đã được khảo sát và cho thây: kết quả ban đầu râ”t tốt, nhưng không kéo dài mãi. Các biến chứng của phẫu thuật cắt cuốn dưới bao gồm: viêm mũi teo, chảy máu mũi. Thời gian lành sau phẫu thuật thường dài đến nhiều tuần và vẩy mũi có thể tồn tại sau mổ trong một khoảng thời gian dài đôi khi hàng tháng.

Có thể điều trị bệnh viêm mũi vận mạch bằng phẫu thuật hủy thần kinh vidian qua nội soi mũi hay qua hô” chân bướm hàm. Biến chứng nghiêm trọng nhất cửa kỹ thuật này chính là triệu chứng đau mắt tạm thời hoặc kéo dài, giảm tiết nước mắt và dị cảm mặt.

Phương pháp cuô”n mũi dưới bằng laser nhơ khả năng cầm máu rất tốt, nên đã giảm thiểu được biến chứng chảy máu. Tuy nhiên, vẩy mũi lại thường xuất hiện sau mổ đòi hỏi phải thường xuyên rửa mũi kéo dài có khi khoảng từ 4 – 8 tuần.