Bệnh viêm mũi

Các thể viêm mũi mạn tính – Viêm mũi nhiễm trùng mạn tính

Ngày đăng: 2016-09-28
Lượt xem: 469 Views

Các trường hợp viêm mũi nhiễm trùng mạn tính thường nằm trong bệnh cảnh u hạt viêm. Mô hạt viêm hoặc mô hạt phản ứng là hậu quả của tình trạng nhiễm trùng mạn tính. Mô hạt bã đậu có thể hiện diện trong viêm mũi do lao hoặc vi nâ”m. Trên vi thể có thể thây các tế bào viêm nằm chồng chât quanh một khối mô hoại tử không định hình. Hầu hết những vi sinh vật trong dạng này không thể phát hiện dưới phương pháp nhuộm thông thường. Mô hạt có thể biểu hiện dưới dạng các sang thương loét, hoại tử hay tạo thành những khối u trong mũi. Xét nghiệm mô hoc giúp phân biệt với khôi u thực sự và chẩn đoán xác định nguyên nhân: lao, nấm…

vie%cc%82m-xoang-700x467

Rhinoscleroma

Thường xuất hiện ở các nước Đông Âu, Bắc Phi, Trung và Nam Mỹ, hiếm gặp ở nước ta. Yi khuẩn gây bệnh là Klebsiella rhinoscleromatis-một loại trực khuẩn gram âm-bệnh được chẩn đoán nhờ mô học, nuôi cấy và hiện tượng gia tăng kháng thể trong huyết thanh người trong thời kỳ lành bệnh.

Lao mũi

Xuất độ lao mũi gia tăng trở lại trong vài năm gần đây do tình trạng gia tăng người bị nhiễm HIY trong dân sô”. Phân nửa sô” bệnh nhân lao mũi được khám và điều trị tại các bệnh viện đa khoa trước khi được chẩn đoán và điều trị thích hợp. Bệnh lao mũi được khởi đầu bởi một vết loét đơn độc ở vùng vách ngăn, đau, có thể làm thủng vách ngăn.

Việc chẩn đoán xác định được dựa trên tìm vi khuẩn gây nên bệnh bằng nhuộm kháng acid, cây, hoặc bằng thử nghiệm trên súc vật. Điều trị bao gồm nâng cao tổng trạng và sử dụng thuốc kháng lao, cần cảnh giác tìm các sang thương lao nguyên phát như lao thanh quản, phổi.

Giang mai mũi

Bệnh giang mai biểu hiện ở mũi trên các bệnh nhân bị giang mai bẩm sinh hoặc giang mai thời kỳ thứ ba. Giang mai bẩm sinh mũi làm sống mũi bị lõm xuống như hình yên ngựa. Săng Giang mai thời kỳ thứ nhất cũng có thể hiện diện trong mũi, nhưng các triệu chứng của bệnh giang mai ở mũi xuất hiện trong thời kỳ thứ ba: hiện tượng phá hủy cấu trúc sụn-xương trong hốc mũi. Những sang thương gôm giang mai thoạt đầu có cấu tạo giống khôi u, sau đó sẽ phá hủy vách ngăn và khẩu cái cứng. Sang thương cũng diễn tiến gần giông bệnh u hạt ác tính giữa mặt.

Trong dịch tiết lấy từ các săng giang mai, chúng ta có thể phát hiện xoắn khuẩn giang mai bằng các phương pháp nhuộm đặc biệt.

Phương pháp xét nghiệm huyết thanh học – hấp thụ kháng thể treponema huỳnh quang có độ nhạy cao (98%) và đặc hiệu cho giang mai thời kỳ thứ ba. VDRL (venereal disease reseach laboratory test) còn có khả năng đánh giá xem vi khuẩn đã xâm nhập dịch não tủy hay chưa. Xét nghiệm regin nhanh (rapid plasma reagin test) có khả năng phát hiện giang mai thời kỳ II nhạy đến 99%, điều trị bệnh giang mai bằng benzathine penicillin hoặc tetracycline nếu bệnh nhân dị ứng với penicillin.

Viêm mũi xoang do nấm

Tỉ lệ phát hiện bệnh viêm mũi xoang do nấm gia tăng trong thời gian gần đây. Trước đây, bệnh viêm mũi xoang do nấm được cho rằng do suy giảm hoạt động của hệ miễn dịch nhưng ngày nay, người ta thấy bệnh nấm xoang xâm lấn luôn xảy ra trong những cơ địa thuận lợi. Việc nhuộm bệnh phẩm bằng hematoxylin và eosin rất dễ bỏ qua bệnh viêm xoang do nấm. Do vậy để xác định chẩn đoán viêm mũi xoang do nấm, ngày nay đã xuất hiện một số phương pháp nhuộm cũng như nuôi cấy đặc biệt. Những thuốc kháng nấm có hiệu quả tương đôi kém và có độc tính cao hơn so với các thuốc kháng sinh. Việc phân chia và xác định các thể viêm mũi xoang do nấm đôi khi rất khó khăn vì thế việc chẩn đoán và điều trị thích hợp bệnh viêm mũi xoang do nấm là một thách thức lớn với mọi bác sĩ lâm sàng trong giai đoạn hiện nay.

Viêm xoang do nhiễm nấm Rhỉnosporodiosis

Rhinosprorodiosis là một bệnh hiếm găp, phần lớn xuất hiện ở các nước đang phát triển ở nước ta chưa có báo cáo nào ghi nhận. Nguyên nhân khởi phát là do một loại nấm Rhinosporidium Seeberì.

Bệnh thể hiện bởi một khối u trong mũi gây chảy mũi, nghẹt mũi và chảy máu mũi có dạng một khối u giông polyp hồng hoặc tím, dễ vỡ. Điều trị phẫu thuật là phương pháp được chọn lựa. Tỉ lệ tái phát sau khi khỏi bệnh là 10%.

Viêm xoang do nhiễm nấm Aspergillus

Bệnh thường xảy ra trên những bệnh nhân có suy giảm miễn dịch. Bệnh có nhiều thể: u nấm xoang hàm, nhiễm trùng mạn không xâm lấn, nhiễm ưùng xâm lấn và viêm xoang dị ứng nấm (giống như viêm phổi-phế quẫn do aspergillus).

Bệnh cảnh lâm sàng cũng giống như bệnh viêm xoang nhiễm trùng nhưng điểm khấc là bệnh không đáp ứng với điều trị thông thường. Polyp mũi là một triệu chứng thường gặp trong bệnh viêm xoang do nấm, triệu chứng đau vùng giữa mặt thường không rõ rệt. Viêm xoang do nấm thể xâm lân thường xuất hiện trên các bệnh nhân suy giảm miễn dịch có nguy cơ gây tử vong rất cao dù người bệnh đã được phẫu thuật rât rộng và dùng amphotericin B. Chủng aspergillus fumigatus và ílavus là hai loại nấm thường gặp nhất. Các vi nấm này rất khó phát hiện bằng phương pháp nhuộm HE thông thường nên thường được phát hiện qua các phương pháp nhuộm đặc biệt.

Điều trị viêm xoang do nấm bao gồm phẫu thuật để làm sạch bệnh tích và dẫn lưu các xoang nhiễm nấm. Trong trường hợp viêm xoang do nấm đã xâm lấn vào xương hoặc ra khỏi cấu trúc các xoang, phẫu thuật lấy mô bệnh dẫn lưu các xoang và điều trị bằng amphoterici B là phương pháp điều tiị duy nhất.